Chuyển đến nội dung chính

Sắc không luận


SẮC KHÔNG LUẬN
20 tháng 8 – Bính Tý (1936) – ĐẠI THỪA CHƠN GIÁO


Thi:
CAO thăng linh-diệu quán thần-thông,
ÐÀI các nguy nga nỗi bận lòng;
TIÊN Phật thoát ra ngoài cảnh khổ,
ÔNG thành Ðạo chỉ giữ tâm không.

       Thầy mừng các con.
       Thầy nắm cơ-quan mà vận hành Chơn-Ðạo chuyển hóa chúng-sanh.  Thầy bỏ ngôi Thiên giáng thế là vì thương xót đám sanh-linh mới lập Ðại-Ðạo mà cứu vớt cho khỏi tội-tình để tránh cuộc tang thương cứ mãi vùi chôn trong gió bụi.
       Thầy nay ban xuống một pho ÐẠI-THỪA CHƠN-GIÁO minh lý Ðạo, thức tỉnh chúng-sanh (riêng cho kẻ luyện Ðạo) tu hành, làm mối chuẩn thằng, lưu truyền tập tục.
       Sẵn đây Thầy giải qua chữ  SẮC, chữ KHÔNG.  Các con nên học nằm lòng mà lo giải-thoát.


Thi:
Muôn vật thế-gian chẳng vững bền,
Có thì hư-hoại mấy hồi nên;
KHÔNG là trường-cửu, không tan rã,
Nên mượn chữ KHÔNG đúc móng nền.

       SẮC tức thị KHÔNG.  Ở thế gian hữu-hình vật-chất này, không bao lâu nó tan ra gió bụi.
       Các con có hình-trạng, mắt thấy, tai nghe là giả, mộng ảo.  Các vật sống trên thế-giới không bao giờ bền-bỉ, có đó rồi nó lại hóa ra không.  Sự có, không ấy nó dễ dàng mau lẹ như bọt nước trôi sông, như sương đeo ngọn cỏ.  Ðã vậy, cõi trần ai, là nơi “Dục-Giới”, con người cả ham muốn, ưa vật này, thích món nọ.  Cái túi tham không đáy, chứa mãi chẳng đầy. Lòng tham dục chuyện này việc khác, đắm đuối trong bốn vách: tửu, khí, sắc, tài, say-mê bả lợi, mồi danh, cứ quẩn-quẩn quanh-quanh trong trường mộng ảo.  Không xét cạn, nghĩ cùng cuộc đời là giả.  Các vật sắp bày trên mặt đất nó hư-hoại chẳng vững-bền mà con người cứ tham chạ, tưởng vơ, cứ bỏ chỗ không mà tìm nơi chỗ có. Có kia sẽ hóa không, không ấy là đường Chơn-Ðạo.  Cái xác phàm hư-hoại thì linh-hồn trở lại chỗ không. Vậy thì các trẻ ráng nỗ sức gia-công mà tham-khảo con đường thâm-viễn.


THI BÀI
Ðường Chơn-Ðạo trong “KHÔNG” mà ““,
Pháp-chánh-truyền có đó hóa không;
Làm sao phủi sạch bụi hồng,
Giữ tâm thanh-tịnh để lòng tự-nhiên.
Cõi vật-chất hiện tiền thấy đó,
Vật sắp bày nhưng có mà không;
Nó mau hư nát lẹ làng,
Chẳng chi bền-bỉ vững-vàng đặng lâu!
Mắt dòm thấy sắc, màu, hình, tướng,
Thì chắc gì ảnh-hưởng về sau;
Nhục, vinh, sang, tiện, nghèo, giàu,
Sang qua sớt lại biết bao nhiêu lần.
Ðịnh trí nghĩ cuộc trần giả-mộng,
Thoát ra ngoài hư-hỏng tang-thương;
Ngày đêm tâm-chí lo lường,
Tầm tu Chánh-giáo là phương chữa mình.
Kìa những đóa hoa xinh sắc đẹp,
Mọi người đều mê-mệt mến-ham!
Thánh kia lộn kiếp ra phàm,
Sóng trần bũa khắp đành cam lấp-vùi!
Người thích cuộc mua vui ham lạ,
Ðắm sắc rồi như cá vướng câu;
Ruột, gan, tâm, trí, lộn nhầu,
Tinh-thần tiều-tụy, đèn dầu lụn tim.
Phân tội phước nặng chìm nhẹ nổi,
Kiếp luân-hồi tiếp-nối mãi ru!
Nghiệp dày mắc phải tội tù,
Bởi chưng tham dục không tu chịu hèn.
Ðời nhiều lúc trắng, đen thay đổi,
Ðời nhiều người lầm-lỗi quá chừng;
Vừa lòng ham muốn vui mừng,
Không vừa oán-trách lẫy-lừng ghét-ganh.
Các sự quấy nảy sanh ra mãi,
Xác thịt còn nó lại đeo-đai;
Ý, thân, miệng, mũi, mắt, tai,
Trừ xong thì thấy lộ-bày cảnh không.
Kìa muôn vật ở trong thế-giới,
Tụ rồi tan, có lại thành không;
Dòm xem Thầy luống não-nồng,
Dinh-hư tiêu-trưởng non sông chắc gì?
Chi bằng trước qui-y hành Ðạo,
Bỏ lòng phàm mà tạo lòng Tiên;
Lòng phàm chác những não-phiền,
Buồn, lo, than, trách, xẹo-xiên, giận-hờn.
Lòng Tiên mới là chơn-chánh Ðạo,
Không không mà thông-thạo diệu-huyền;
Dứt rồi nghiệp-quả nhơn-duyên,
Ðoạn xong tư-tưởng nối chuyền về sau.
Không, không sắc, không màu, không tướng,
Không, không hình, không tượng, không nghe;
Không ham kết đảng lập phe,
Không ham sang-trọng, không khoe-khoang mình.
Không cầu lợi, cầu danh tham dục,
Không làm điều tà-khúc hại đời;
Không làm khó nhọc cho người,
Không làm chuyện quấy để đời phiền-phân.
Không lưu-luyến hồng-trần buộc trí,
Khỏi bốn tường trực-chỉ Ðào-Nguyên;
Không không mới thiệt diệu-huyền,
Chữ không làm đặng thì Tiên trong đời.
Ðể tâm KHÔNG Phật, Trời bố hóa,
Người tu hành chẳng khá bỏ KHÔNG;
Chữ KHÔNG mầu-nhiệm nơi lòng,
Hành theo thấy rõ tâm trong diệu-huyền.
Người nên Thánh, nên Hiền, nên Ðạo,
Trước phải lo rèn-tạo chơn-không;
Mặc ai tham-chạ đèo-bồng,
Mặc ta, ta cứ giữ lòng an-nhiên.
Dẫu người dụng oai-quyền húng-hiếp,
Cứ nhẫn-hòa bặt-thiệp thanh-minh;
Chẳng vì sợ hại-hư mình,
Ngơ tai, bít mắt, vẹn gìn lòng son.
Nã-Phá-Luân gương còn ở đó,
Ngang dọc trời, công khó biết bao;
Xông pha tên đạn ào-ào,
Rốt rồi cũng bại, anh hào hóa Không.
Kìa Hạng-Võ non sông ngang dọc,
Lúc suy thời khử-nọc bạo-hung;
Xưa nay biết mấy anh hùng,
Rốt rồi chẳng khỏi đến cùng thành Không.
Ðạo Tiên Phật rèn lòng luyện tánh,
Tìm chỗ KHÔNG mà lánh luân-hồi;
Ở trần nhân-quả nó nhồi,
Ráng tu một thuở gỡ rồi nợ-duyên.
Mượn cảnh không diệt phiền trừ não,
Bực chí-thành nương Ðạo an vui;
Gỡ xong thế-cuộc rối-nùi,
Trăng-thanh gió-mát là mùi thanh-tao.
Ai là bực anh-hào quân-tử?
Ai lảu-thông kinh-sử Thánh-Hiền?
Sao mang chứng bịnh não-phiền,
Không lo thoát khỏi cái xiềng quỉ-vương!
Sao không biết tầm đường chánh-đại,
Mê lợi danh mắc phải tội-tình;
Khôn chi chôn cả tánh linh,
Hai đường, đường nhục, đường vinh, chọn làm.

Thi:
Làm sao xứng-đáng Ðạo nhà Nam,
Nam nữ luyện tu cổi lốt phàm;
Phàm Thánh khác xa  với Giác,
Giác-quan cám dỗ chớ nên làm.



       Thầy ban ơn các con.  Thầy thăng.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Không nên giải đãi trên đường tu

KHÔNG NÊN GIẢI ĐÃI TRÊN ĐƯỜNG TU Đối với những ai đã ngán ngẩm lẽ vô thường của thế gian này, muốn cầu đạo giải thoát thì phải hạ quyết tâm để dứt khoát những nghiệp duyên kéo trì, không nên chờ hẹn vì chẳng ai dám quyết đoán mạng sống của mình dài được bao lâu.   Cổ thi có câu: Ngày trước đầu đường còn ruổi ngựa, Hôm nay trong quách đã nằm yên . hoặc câu: Chờ hẹn đến già rồi niệm Phật, Đồng hoang mồ trẻ thấy đông người. T rên đường tu, để ngăn tránh về sự giải đãi, đức Phật đã răn dạy: “Thầy tỳ khưu thường hay có tám cách biếng trễ. Chẳng hạn bữa nào đi khất thực đói, liền nghĩ rằng: “Hôm nay khất thực đói, trong người tất thiếu sức khỏe, để huởn tu một đêm.” Bữa nào khất thực no, liền nghĩ: “Hôm nay ăn no, trong người nặng nề mệt nhọc, thôi tạm xả tu, mai sẽ tiếp tục.”  Như thế cho đến những khi sắp làm việc nhiều, lúc làm việc nặng vừa xong, sắp muốn đau, khi đau bịnh vừa mạnh, sắp đi xa, lúc đi xa mới về; trong các trường hợp ấy, lúc nào cũng nại cớ này, cớ khác...

Thánh Giáo dạy về Ngũ Nguyện

  ·         Nhứt nguyện Đại Đạo hoằng khai. Thử hỏi hoằng khai là gì? Có phải phát triển, khai phóng, mở rộng từ cơ sở đến giáo lý cho quảng đại quần chúng hiểu biết và làm theo hay chăng? Chớ không có nghĩa là đóng khung trong hình thức nhỏ hẹp như một hội thánh, một thánh thất hay tịnh thất để cho một thiểu số người mà dám gọi là Đại Đạo hoằng khai. (1) ·         Nhứt nguyện Đại Đạo hoằng khai , nhưng cứ ngồi khoanh tay chờ đợi huyền năng vô hình nào để đến hoằng khai cho mình. (2) ·         Đạo là lý hư vô bàng bạc trong không thời gian và tất cả, thì tất cả đều hấp thụ sự sinh tồn bởi Đạo, cái Đạo vĩ đại vô cùng vô tận không kể xiết được. Muốn hoằng khai cho thiên hạ biết được Đạo, phải qua trung gian của thiên hạ, tức là con người, là chư Thiên mạng có trọng trách thế Thiên hành đạo. Thế Thiên hành đạo không phải chỉ ở hàng chức sắc chức vụ phẩm vị cao, mà bất cứ ai có tâm thành vì đạo, có nhận thức đạt được lý Đạo, đều có thể hoằng khai với bất kỳ hình thức nào...

Công Quả

  CÔNG QUẢ Văn Phòng Phổ Thông Giáo Lý, Ngọ thời 14 tháng 5 Mậu Thân  (9 – 6 – 1968) Thi: Nương ánh hồng quang đến cõi trần,   Mượn lời đạo lý khuyến sanh dân,   Tu hành để biết cơ mầu nhiệm,   Biết rõ an nhiên định số phần.   AN HÒA THÁNH NỮ   chào chư Thiên mạng, chào chư liệt vị đạo tâm nội ngoại đàn tiền. Thánh Nữ xin mời chư liệt vị toàn thể đồng an tọa.   Hỡi chư liệt vị hướng đạo! Hỡi chư đạo tâm nam nữ! Hỡi con cháu lớn nhỏ! Dầu ở thế giới hữu hình, dầu ở thế giới vô hình, khi đã giác ngộ rồi, mỗi người đều cố gắng lo công quả hành đạo giúp đời, với hình thức nầy hoặc với hình thức khác để lập vị. Lập vị mà Thánh Nữ nói nơi đây không có nghĩa là địa vị vinh diệu cùng đỉnh chung phú quí chốn phù ba ảo ảnh nơi cõi vô thường nầy. Lập vị mà Thánh Nữ muốn nói nơi đây có nghĩa là vị cũ ngôi xưa từ khối Đại Linh Quang chiết ra, mỗi mỗi đi một nơi một ngả, mỗi người lo lập đức lập công để ngày nào đó trở về ngôi xưa vị cũ dâng hiến bao nhiêu công đức...