Chuyển đến nội dung chính

Mười điều khuyến tu của Đức Chí Tôn

 

MƯỜI ĐIỀU KHUYẾN TU 

CỦA ĐỨC CHÍ TÔN

(Trích Thánh Giáo Sưu Tập)

 

Ðiều thứ nhứt: Thầy khuyên nên nhớ, 

Lòng trung kiên muôn thuở còn nêu;

Dầu ai nặng nhẹ trăm điều, 

Quyết không bỏ lý cao siêu của Thầỵ

Nhiều thử thách vây quanh con đó,

Nếu ngã lòng công khó tiêu tan;

Việc chi dầu ở trần gian,

 Là điều huyễn hoặc chớ mang nơi lòng.

Ðiều thứ hai: Thầy trông đệ tử, 

Tình bạn bè phải giữ thủy chung;

Luôn luôn tha thứ khoan dung, 

Nói năng nhỏ nhẹ chớ dùng lời thô. 

Dìu dắt nhau điểm tô công quả,

Phải thật hành với cả chung quanh; 

Thiệt thòi cam chịu đã đành,

Vô vi phẩm vị Thầy dành cho con.

Ðiều thứ ba: Vẹn tròn hạnh đức,

Tuy bán buôn cực khổ tảo tần;

Ðủ công nuôi nấng tấm thân, 

Ðừng ham những chuyện phi nhân gạt lường.

Dầu tiền bạc đầy rương tràn tủ,

Cuộc trần nầy chưa đủ con ơi!

 Ác gian cũng chỉ một đời,

Thà nghèo trong sạch thảnh thơi linh hồn.

 Ðiều thứ tư: Pháp môn qui luật,

Lục, thập trai cố sức trao dồi; 

Thịt thì xương máu tanh hôi, 

Cỏ cây rau cải cũng rồi bữa ăn. 

Ðức từ bi thường hằng thể hiện, 

Không sát sanh lòng thiện ta còn;

Lạt chay tuy chẳng ngọt ngon, 

Còn hơn thú vị cơm chan máu hồng.

Ðiều thứ năm: Quyết không hờn giận,

Ghét ganh chi cho bận lòng mình; 

Con xem vạn quyển Thiên Kinh,

Hiền nhân quân tử rộng tình ví câu.

 Muôn việc xảy bắt đầu phẫn nộ, 

Là nguyên nhân thống khổ ly tan;

Chơn truyền Pháp chánh Ðạo Vàng, 

Tập xong chữ Nhẫn Niết Bàn không xa.

Ðiều thứ sáu: Thiết tha Thầy dặn, 

Ngày hai thời lẳng lặng công phu;

Việc chi dầu quá cần cù, 

Cũng nhơn vài khắc tập Tu nguyện cầu.

Khi rảnh việc đồng sâu chợ búa,

Ðem sấm, kinh, thi… của Thầy ban; 

Học cho thông thuộc đôi hàng,

Ngâm nga trong lúc thanh nhàn bâng khuâng.

Ðiều thứ bảy: Quyết tăng công quả, 

Ta cứu người già cả ốm đau;

Tùy duyên có thể giúp vào,

Lâm cơn hoạn nạn khi nào cần con.

 Phước đức đó vẫn còn muôn thuở,

Tuy vô hình đừng ngỡ rằng không,

Con ôi! trong cõi trần hồng, 

Mấy ai nghĩ đến tấm lòng thanh cao.

Ðiều thứ tám: lời nào Thầy dạy,

 Dầu khổ đau chớ ngại công trình; 

Biết rằng con phải hy sinh,

Phật Tiên đâu nỡ quên tình hay sao?

 Ðừng chấp việc núi cao rừng thẳm,

Hãy dò đường muôn dặm xa trông; 

Nếu con thề giữ trọn lòng,

Ðương nhiên đắc Đạo thoát vòng tử sanh.

Ðiều thứ chín: Ðạo hành cơ bản, 

Giữ làm sao có bạn không thù;

Từ đây con nhớ rằng Tu,

Hạ mình nhận lỗi mặc dù là không. 

Lời nói sao hòa trong hiệp ngoại,

 Ðừng hơn người nếu phải ép lòng;

Không ham những chuyện mênh mông, 

Trừ no đủ ấm ép lòng mà chi.

Ðiều chót hết: Mười ghi trăm nhớ, 

Phật + Pháp + Tăng con chớ quên ơn; 

Gia đình nghĩa trọng nhiều hơn, 

Tình thương xã hội trong cơn thiết cần. 

Ơn Tổ Tiên dành phần con cháu,

Do những lời dạy bảo Thầy mong;

 Con ơi! Hãy khá ghi lòng,

Bấy nhiêu tâm huyết mấy dòng thi văn.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Không nên giải đãi trên đường tu

KHÔNG NÊN GIẢI ĐÃI TRÊN ĐƯỜNG TU Đối với những ai đã ngán ngẩm lẽ vô thường của thế gian này, muốn cầu đạo giải thoát thì phải hạ quyết tâm để dứt khoát những nghiệp duyên kéo trì, không nên chờ hẹn vì chẳng ai dám quyết đoán mạng sống của mình dài được bao lâu.   Cổ thi có câu: Ngày trước đầu đường còn ruổi ngựa, Hôm nay trong quách đã nằm yên . hoặc câu: Chờ hẹn đến già rồi niệm Phật, Đồng hoang mồ trẻ thấy đông người. T rên đường tu, để ngăn tránh về sự giải đãi, đức Phật đã răn dạy: “Thầy tỳ khưu thường hay có tám cách biếng trễ. Chẳng hạn bữa nào đi khất thực đói, liền nghĩ rằng: “Hôm nay khất thực đói, trong người tất thiếu sức khỏe, để huởn tu một đêm.” Bữa nào khất thực no, liền nghĩ: “Hôm nay ăn no, trong người nặng nề mệt nhọc, thôi tạm xả tu, mai sẽ tiếp tục.”  Như thế cho đến những khi sắp làm việc nhiều, lúc làm việc nặng vừa xong, sắp muốn đau, khi đau bịnh vừa mạnh, sắp đi xa, lúc đi xa mới về; trong các trường hợp ấy, lúc nào cũng nại cớ này, cớ khác...

Thánh Giáo dạy về Ngũ Nguyện

  ·         Nhứt nguyện Đại Đạo hoằng khai. Thử hỏi hoằng khai là gì? Có phải phát triển, khai phóng, mở rộng từ cơ sở đến giáo lý cho quảng đại quần chúng hiểu biết và làm theo hay chăng? Chớ không có nghĩa là đóng khung trong hình thức nhỏ hẹp như một hội thánh, một thánh thất hay tịnh thất để cho một thiểu số người mà dám gọi là Đại Đạo hoằng khai. (1) ·         Nhứt nguyện Đại Đạo hoằng khai , nhưng cứ ngồi khoanh tay chờ đợi huyền năng vô hình nào để đến hoằng khai cho mình. (2) ·         Đạo là lý hư vô bàng bạc trong không thời gian và tất cả, thì tất cả đều hấp thụ sự sinh tồn bởi Đạo, cái Đạo vĩ đại vô cùng vô tận không kể xiết được. Muốn hoằng khai cho thiên hạ biết được Đạo, phải qua trung gian của thiên hạ, tức là con người, là chư Thiên mạng có trọng trách thế Thiên hành đạo. Thế Thiên hành đạo không phải chỉ ở hàng chức sắc chức vụ phẩm vị cao, mà bất cứ ai có tâm thành vì đạo, có nhận thức đạt được lý Đạo, đều có thể hoằng khai với bất kỳ hình thức nào...

Công Quả

  CÔNG QUẢ Văn Phòng Phổ Thông Giáo Lý, Ngọ thời 14 tháng 5 Mậu Thân  (9 – 6 – 1968) Thi: Nương ánh hồng quang đến cõi trần,   Mượn lời đạo lý khuyến sanh dân,   Tu hành để biết cơ mầu nhiệm,   Biết rõ an nhiên định số phần.   AN HÒA THÁNH NỮ   chào chư Thiên mạng, chào chư liệt vị đạo tâm nội ngoại đàn tiền. Thánh Nữ xin mời chư liệt vị toàn thể đồng an tọa.   Hỡi chư liệt vị hướng đạo! Hỡi chư đạo tâm nam nữ! Hỡi con cháu lớn nhỏ! Dầu ở thế giới hữu hình, dầu ở thế giới vô hình, khi đã giác ngộ rồi, mỗi người đều cố gắng lo công quả hành đạo giúp đời, với hình thức nầy hoặc với hình thức khác để lập vị. Lập vị mà Thánh Nữ nói nơi đây không có nghĩa là địa vị vinh diệu cùng đỉnh chung phú quí chốn phù ba ảo ảnh nơi cõi vô thường nầy. Lập vị mà Thánh Nữ muốn nói nơi đây có nghĩa là vị cũ ngôi xưa từ khối Đại Linh Quang chiết ra, mỗi mỗi đi một nơi một ngả, mỗi người lo lập đức lập công để ngày nào đó trở về ngôi xưa vị cũ dâng hiến bao nhiêu công đức...