Chuyển đến nội dung chính

Tích Đức Chúa Jesus giáng sinh

LỜI ĐỨC CHÚA JESUS DẠY
VỀ TÍCH ĐỨC CHÚA GIÁNG SINH
HUỜN CUNG ĐÀN
Tý Thời 06-11-Mậu Thân (25-12-1968)

THI
BÁP TÊM phép nhiệm đã truyền ban,
TÍT cũ còn lưu liến sách vàng;
GIĂNG thẳng mực dây đau gỗ vạy,
LAI đàn báo hiệu lịnh Cha ban.

GIĂNG Ta mừng chư Thánh Đồ. Giờ linh, giờ kỷ niệm gần Hai ngàn năm xuất thế. Ta vâng lịnh Cha Ta truyền lời cùng chư Thánh Đồ Nam Nữ Tam ban trong ngày lễ hạ, thành tâm cung thỉnh Cha Ta hạ trần ban ân huệ cho Thánh Độ. Vậy Ta xuất ngoại hộ điển.

THĂNG

Tiếp Điển:

THI
GIA đình dời đổi ghét ghen Ta,
đức Thánh Linh xuất hiện ra;
GIÁO khắp Á Âu Tân Cựu Ước,
CHỦ quyền Thánh Đạo chỉ mình Ta.
trần kỳ hạ gầy minh đức,
DANH hiệu bao trùm khắp giái ba;
CAO ngút từng mây truyền điển báu,
ĐÀI môn chuyển dựng hội Long Hoa.

Gia Tô Cháo Chủ, Tá Danh Cao Đài.

Ta ban ân lành chung chư chúng sanh Tông Đồ, kể từ ngày giá lâm đến nay gần hai ngàn năm tròn, thế hệ trải qua bao thời kỳ chuyển Đạo, các Tông Đồ đã hết lòng chiêm bái, dầu cho nên Đạo quá xa xăm truyền đến, giờ nầy khắp thế gian Âu Á đều ca tụng lễ mừng Ta, theo lời tiên đoán trong Hai Ngàn Năm ta sẽ tá lâm phàm trần nhưng ngày Ta giá lâm như kẻ trộm.

Vậy giờ nay Ta giá lâm phàm trần chứng lòng mến kỉnh của chư Tông Đồ, Ta quay lại dòng đời xuất hiện của Ta lúc vừa thoát thai cho đến ngày thành Đạo để cho chư Môn Đồ làm một kỷ niệm lúc khêu lại danh Ta, cho đúng lời truyền tụng vì từ xưa lưu lại nơi Thánh Kinh cũng còn chỗ chưa rõ ràng như thử.

Đây Chư Tông Đồ nghe kỹ: 

Ta lúc ban sơ Mẹ Ta là Maria, Cha không sanh Ta là Gio sép (Joseph). Lúc Mẹ Ta vừa hứa hôn cùng Cha, bấy giờ Mẹ Ta vì cảm hóa Đức Thánh Linh mà thọ thai. Cha không sanh Ta biết đặng, lòng người phân vân nhưng Cha không sanh Ta là người công nghĩa, không bao giờ bêu xấu cho Mẹ Ta, nhưng lòng Cha không sanh Ta vẫn đắn đo. Một hôm, Đức Thánh Linh báo mộng cho Cha không sanh Ta biết rằng: Mẹ Ta thọ Thai bởi cảm hóa Đức Thánh Linh thành hình, sau nầy sanh ra một trai người sẽ đặt tên là Jésus. Người nầy sau cứu khổ nạn tội tình Dân Tộc Ta. Điềm báo mộng nầy thật thế. Sau Mẹ Ta sanh rõ ràng, Cha không sanh Ta người mới đủ đức tin để nuôi dưỡng Ta như thế. Khi Ta được thoát thai có một ngôi sao sáng từ trên Trời sa xuống. Những nhà thông thái ở vùng cận đông xứ này nhìn thấy, bèn tìm đến thành Giê ru sa lem (Jérusalem) mà hỏi Vua Hê Rốt (Hérode) rằng: Chẳng hay Xứ này có Vua Dân Do Thái vừa xuất hiện, chẳng biết nơi đâu tìm đến để thờ lại ngài. Khi Vua Hê Rốt nghe tin này cả quần thần xứ Giê ru sa lem (Jérusalem) đều bối rối, vua bèn truyền các nhà thông thái đi tìm. Thoảng nhiên những nhà thông thái liền đi vào nơi Bết Lê Hem, (Bethléhem) thấy Ngôi sao trước mặt, lần từ từ đi đến nhập vào nhà liền gặp Mẹ Ta cùng Ta, các nhà thông thái bèn sụp xuống quì lạy và dâng báu vật đạo rồi Đức Thánh Linh mách bảo rằng: các ngươi phải tìm đường mà về xứ, đừng trở lại thành Hê Rốt (Hérođe) mà phải mang tai.
Lúc ấy Vua Hê Rốt (Hérode) lòng tham vô hạn, biết rằng đã có Thánh Linh hạ trần nên tìm cách hủy diệt. Lúc nầy Đức Thánh Linh báo mộng cho Cha không sanh Ta dời Ta cùng Mẹ Ta qua nơi xứ Ai Cập (Egypte) để tựa nương chừng nào được tin báo mộng sẽ trở về. Lúc ấy Vua Hê Rốt (Hérode) bàn truyền lịnh bắt Đồng Nhi Nam để diệt trong xứ này không ít, cố ý để sát hại Ta. Đó là lòng người như thử, lòng Trời đâu thế, Ta bởi Đức Thánh Linh con một mà ra. Sau thời gian trôi qua, Cha không sanh và Mẹ cùng Ta ở nơi Ai Cập (Egypte). Lúc bấy giờ, Vua Hê Rốt (Hérode) đã băng thì Cha không sanh Ta được Đức Thánh Linh báo hiệu dời Mẹ cùng Ta trở về, nhưng lúc nầy con Vua Hê Rốt (Hérode) là A Chê Lau (Archélaus) kế vị nên Đức Thánh Linh truyền Cha không sanh Ta đưa Ta về sứ Y Sơ Ra Ên (Israel) liền chuyển qua Ga Li Lê (Galilée) nơi thành Na Ra Rét (Nazareth). Ta bèn ở đây ngày tháng trôi qua, Ta lần lượt đã lớn lên đi theo bờ biển Ga Li Lê (Galilée) để xem phong cảnh Thập Nhị. Nơi đàn tiền hỡi Tông Đồ nào nhớ Mười hai sứ đồ kể lại cho Ta nghe?

Thiên Hoa bạch chúng con nhớ không rõ nhờ Chúa minh ra.

Cười! Ta kể đây chư Tông Đồ ghi nhận: Trước khi Ta đi dài theo bờ biển Ga Li Lê (Galilée) gặp hai người đang đánh lưới đầu tiên tên là Si MônAnh Rê (André). SiMon tức là Pi e Rơ (Pierre) người Môn Đồ thứ nhứt của Ta mà cũng là người chối Ta ba lần trước khi Gà trở canh. Khi Ta gặp 2 người đang đánh lưới thì Ta bảo rằng: các ngươi hãy theo Ta để Ta truyền nghề nầy rất có lợi cho đời mà trước tiên có lợi nhiều cho các ngươi. Hai người bèn hỏi thì Ta bảo Hai người theo Ta, Ta truyền nghề đánh lưới người cho các ngươi. Hai Tông Đồ bèn đồng ý theo Ta để truyền tin Chúa Thánh Linh là Đấng cứu thế lâm phàm cứu dân tộc, cứu cả mọi người tin Ta. Kế tiếp lần lượt cũng bờ biển nầy Ta sang qua gặp Ba Cha con người đang vá chài, Ta liền bảo hai người con đặng: Hai ngươi phải theo Ta, Ta truyền nghề nầy rất có lợi nhiều hơn nghề của các ngươi đang làm. Hai người bèn bỏ Cha theo Ta tức là Gia Cơ (Jacques) và Giăng (Jean), anh em ruột là con của Xê Bê Đê (Zébédée). Đó là bốn Môn Đồ đầu tiên, lần lượt Ta thâu Môn Đồ kế tiếp, thứ 5 là Phi Líp (Philippe), 6 là: Ba Thê Lê My (Brathélémy), 7 là: Thô Ma (Thomas), 8 là: Ma Thi Ơ (Mathieu), 9 là Gia Cơ (Jacques) – Gia Cơ nầy là con của Anh Phê (Alphée), 10 là Tha Đê (Thaddée), 11 là: Si Môn (Si Môn nầy là người xứ Ca Na An), 12 là Giu Đa (Judas) – Giu Đa: Ích Ca Ri ốt (Iscariot) là người đã phản Ta.

Anh Lớn Thiên Hoa xin trình bày rõ ràng dưới đây cho dễ hiểu: 

          1 . Si Môn           gọi là          : Pi E Rơ (Pierre)
          2 . Anh Rê           gọi là          : (Andrée)
          3 . Gia Cơ           gọi là          : (Jacques) con của (Zébédée)
          4 . Giăng             gọi là          : (Jean)
          5 . Phi Líp           gọi là          : (Philippe)
          6 . Ba Thê Lê My  gọi là        : (Brathélémy)
         7 . Thô Ma           gọi là          : (Thomas)
         8 . Ma Thi Ơ        gọi là          : (Mathieu)
         9 . Gia Cơ            gọi là          : (Jacques) Gia Cơ nầy là con của (Alphée)
        10 . Tha Đê           gọi là          : (Thaddée)
        11 . Si Môn           gọi là          : (Si Môn nầy là người xứ Ca Na An)
        12 . Giu Đa           gọi là          : Ích Ca Ri ốt (Iscariot) là phản Chúa.

Tiếp phần Thánh Giáo

Như vậy là Thập Nhị Môn Đồ đã truyền tụng lời Ta tin đến cùng các nơi để Ta trị bịnh ngặt nghèo của thế gian, mà người thế gian không bao giờ trị đặng.
Ta đã từng rửa chơn cho Giu Đa (mặc dù người đã phản Ta).

Đó là Ta đã biết nhưng không để Môn Đồ phản Ta thì lời tiên tri Thánh Kinh không hiệu nghiệm đó. Khi Ta truyền Đạo trong thời đã ghi nhiều Kinh Thánh, đến ngày Ta chịu đóng đinh máu rơi để chuộc tội cho thế gian, những người bên Ta còn mắng nhiếc Ta, Ta sống lại, nhưng người đời truyền tụng cho là Ta giả dối để gạt người đời.

Vậy nay Ta đến cùng các Tông Đồ trong ngày kỷ niệm, Ta lưu lại đôi dòng bút ký để Tông Đồ nhìn qua nhớ lấy.

Vậy nghe Ta đôi lời lưu ký:

BÀI
Đêm đông lạnh gió lay đồi núi,
Nơi đồi thông gió bụi chớp giăng;
Trên non sao tỏa bóng Hằng,
Gió lay thông đổ oại oằn đọt thông.
Tiếng du dương reo rong lặng lẽ,
Đoàn ngựa xe khắc khẽ tới nơi;
Chở bao bông trái vậy thời,
Đoàn người ca hát gốc Trời Âu Châu.
Khắp mọi người trên đầu sương trắng,
Đáp bao vòng xây vặn đoanh qua;
Lọng dù ngổn ngang tụi tà,
Đoàn người ca hát đến mà cội thông.
Dưới khe nước dòng trong réo rắc,
Tiếng đẩy đưa dặc dặc trường lưu;
Trên thời nước đổ chảy nhiều,
Dưới thời cát bụi đã diêu mịt mù.
Ấy là điềm chơn tu xuất thế,
Cứu nhơn sanh dâu bể tang thương;
Điềm Trời Ngũ Sắc Tường Vân,
Bao giăng rặng núi giáp sường cội cây.
Đó là nhắc trước đây tích cũ,
Lúc thoát sanh nhiều lũ đoàn người;
Mừng Ta trong lúc xuất đời,
Tìm Ta đến chốn rằng Trời tá lâm.
Nhưng Chúa Cha âm thầm không tỏ,
Nhưng đoàn người đều có tinh ba;
Mắt nhìn ánh sáng đàn xa,
Biết rằng Chúa hiện nơi tòa Âu Châu.
Đã đến lúc dãi dầu sự thế,
Nay hạ trần Hai chữ Cao Đài;
Tá danh Nam Việt hoằng khai,
Đạo vàng ban xuống Cao Đài là Ta.
Điềm ứng hiện đó mà chưa nhận,
Các con chiên lẩn thẩn bên lề;
Nhìn qua lòng chạnh tái tê,
Hỏi chờ Chúa đến hỡi hề Chúa đâu?
Vì trước đã có câu lưu lại,
Thương ta nhiều rồi phải ghét Ta;
Đó là tiên đoán lời ra,
Ai tường lẽ ấy mới là hiểu thông.
Nay tá trần đôi dòng lưu lại,
Ban ơn chung đồng thảy huệ ân;
Rưới chan chung khắp cõi trần,
Tin Ta thì đặng toàn thân buổi cùng.
Giờ lành điển chớp mông lung,
Giã từ môn đệ không trung Tiên Bồng.
Tiếp lằn quang điển ngự đồng,
Có người Thái Bạch Giáo Tông hạ trần.

Vậy Ta ban ân lành chư Tông Đồ, Ta hồi nước Trời lạc xứ.

THĂNG
Trích Đạo Lý số 37 của Giáo Hội Cao Đài Thống Nhứt.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Không nên giải đãi trên đường tu

KHÔNG NÊN GIẢI ĐÃI TRÊN ĐƯỜNG TU Đối với những ai đã ngán ngẩm lẽ vô thường của thế gian này, muốn cầu đạo giải thoát thì phải hạ quyết tâm để dứt khoát những nghiệp duyên kéo trì, không nên chờ hẹn vì chẳng ai dám quyết đoán mạng sống của mình dài được bao lâu.   Cổ thi có câu: Ngày trước đầu đường còn ruổi ngựa, Hôm nay trong quách đã nằm yên . hoặc câu: Chờ hẹn đến già rồi niệm Phật, Đồng hoang mồ trẻ thấy đông người. T rên đường tu, để ngăn tránh về sự giải đãi, đức Phật đã răn dạy: “Thầy tỳ khưu thường hay có tám cách biếng trễ. Chẳng hạn bữa nào đi khất thực đói, liền nghĩ rằng: “Hôm nay khất thực đói, trong người tất thiếu sức khỏe, để huởn tu một đêm.” Bữa nào khất thực no, liền nghĩ: “Hôm nay ăn no, trong người nặng nề mệt nhọc, thôi tạm xả tu, mai sẽ tiếp tục.”  Như thế cho đến những khi sắp làm việc nhiều, lúc làm việc nặng vừa xong, sắp muốn đau, khi đau bịnh vừa mạnh, sắp đi xa, lúc đi xa mới về; trong các trường hợp ấy, lúc nào cũng nại cớ này, cớ khác...

Thánh Giáo dạy về Ngũ Nguyện

  ·         Nhứt nguyện Đại Đạo hoằng khai. Thử hỏi hoằng khai là gì? Có phải phát triển, khai phóng, mở rộng từ cơ sở đến giáo lý cho quảng đại quần chúng hiểu biết và làm theo hay chăng? Chớ không có nghĩa là đóng khung trong hình thức nhỏ hẹp như một hội thánh, một thánh thất hay tịnh thất để cho một thiểu số người mà dám gọi là Đại Đạo hoằng khai. (1) ·         Nhứt nguyện Đại Đạo hoằng khai , nhưng cứ ngồi khoanh tay chờ đợi huyền năng vô hình nào để đến hoằng khai cho mình. (2) ·         Đạo là lý hư vô bàng bạc trong không thời gian và tất cả, thì tất cả đều hấp thụ sự sinh tồn bởi Đạo, cái Đạo vĩ đại vô cùng vô tận không kể xiết được. Muốn hoằng khai cho thiên hạ biết được Đạo, phải qua trung gian của thiên hạ, tức là con người, là chư Thiên mạng có trọng trách thế Thiên hành đạo. Thế Thiên hành đạo không phải chỉ ở hàng chức sắc chức vụ phẩm vị cao, mà bất cứ ai có tâm thành vì đạo, có nhận thức đạt được lý Đạo, đều có thể hoằng khai với bất kỳ hình thức nào...

Công Quả

  CÔNG QUẢ Văn Phòng Phổ Thông Giáo Lý, Ngọ thời 14 tháng 5 Mậu Thân  (9 – 6 – 1968) Thi: Nương ánh hồng quang đến cõi trần,   Mượn lời đạo lý khuyến sanh dân,   Tu hành để biết cơ mầu nhiệm,   Biết rõ an nhiên định số phần.   AN HÒA THÁNH NỮ   chào chư Thiên mạng, chào chư liệt vị đạo tâm nội ngoại đàn tiền. Thánh Nữ xin mời chư liệt vị toàn thể đồng an tọa.   Hỡi chư liệt vị hướng đạo! Hỡi chư đạo tâm nam nữ! Hỡi con cháu lớn nhỏ! Dầu ở thế giới hữu hình, dầu ở thế giới vô hình, khi đã giác ngộ rồi, mỗi người đều cố gắng lo công quả hành đạo giúp đời, với hình thức nầy hoặc với hình thức khác để lập vị. Lập vị mà Thánh Nữ nói nơi đây không có nghĩa là địa vị vinh diệu cùng đỉnh chung phú quí chốn phù ba ảo ảnh nơi cõi vô thường nầy. Lập vị mà Thánh Nữ muốn nói nơi đây có nghĩa là vị cũ ngôi xưa từ khối Đại Linh Quang chiết ra, mỗi mỗi đi một nơi một ngả, mỗi người lo lập đức lập công để ngày nào đó trở về ngôi xưa vị cũ dâng hiến bao nhiêu công đức...